CHỦ ĐỀ: SUY GIÃN TĨNH MẠCH & HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH - PHẦN 1

Suy giãn tĩnh mạch và Huyết khối tĩnh mạch

Phần 1

 

1) Tổng quan

  • Suy giãn tĩnh mạch (SGTM): là khi van tĩnh mạch ở chân trở nên yếu hoặc bị hư hại dẫn đến việc máu bị ứ trệ, tĩnh mạch nổi ngoằn ngoèo trên da, gây nặng chân, phù chân, ngứa và đổi màu da,...
  • Huyết khối tĩnh mạch nông (SVT): là sự hình thành cục máu đông trong tĩnh mạch nông (thường dọc hệ hiển ở cẳng–đùi) kèm viêm thành mạch
  • Huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT): là sự hình thành các cục máu đông trong tĩnh mạch sâu (thường ở bắp chân/đùi).

SGTM dẫn đến ứ trệ máu ở hệ tĩnh mạch nông do van tĩnh mạch yếu/hư hại. Ứ trệ và viêm thành mạch làm dễ hình thành huyết khối ở tĩnh mạch nông (SVT).

SVT có thể lan vào hệ tĩnh mạch sâu (đặc biệt khi huyết khối nằm gần chỗ nối hiển–đùi/hiển–khoeo hoặc đoạn huyết khối dài), từ đó trở thành DVT.

 

Người mắc SGTM không phải ai cũng bị DVT, nhưng nguy cơ cao hơn nếu kèm: đứng/ngồi lâu, béo phì, thai kỳ–hậu sản, phẫu thuật/nằm viện, ung thư, dùng hormone/thuốc tránh thai, tiền sử VTE (huyết khối–thuyên tắc).

SGTM không chỉ gặp ở độ tuổi từ 45–65 tuổi. Người trẻ trưởng thành cũng có thể mắc phải, đặc biệt là phụ nữ mang thai hay sau sinh dễ bị giãn tĩnh mạch do thay đổi nội tiết và áp lực tăng lên tĩnh mạch chi dưới; đa số giảm sau sinh nhưng có thể gây khó chịu, cần theo dõi và hỗ trợ đúng cách.

2) Nguyên nhân

  • Đứng hoặc ngồi lâu/ít vận động (đặc thù công việc, di chuyển đường dài).
  • Tuổi tác: nguy cơ tăng dần theo tuổi.
  • Di truyền: cha hoặc mẹ bị suy giãn tĩnh mạch/huyết khối tĩnh mạch sâu.
  • Giới tính & nội tiết: nữ giới, thai kỳ, dùng nội tiết/thuốc tránh thai.
  • Thừa cân/béo phì.
  • Hút thuốc, mất nước, rượu bia: làm đặc máu/ảnh hưởng thành mạch.
  • Tiền sử bệnh lý tĩnh mạch: từng bị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) trước đó, chấn thương/phẫu thuật, nằm lâu/nhập viện, ung thư,...

 

3) Dấu hiệu nhận biết

Suy giãn tĩnh mạch

  • Nặng chân, mỏi, căng tức sau đứng/ngồi lâu; Sưng phù mắt cá vào cuối ngày.
  • Tĩnh mạch nông nổi ngoằn ngoèo, ngứa, rát; da vùng cổ chân sạm/đổi màu; nặng có thể loét tĩnh mạch.

Huyết khối tĩnh mạch nông (SVT)

  • Dọc theo một tĩnh mạch nông có đau rát/đau căng, đỏ và ấm, sờ thấy “dây cứng” dưới da.
  • Vùng quanh có thể sưng nhẹ; thường khu trú theo đường tĩnh mạch nông (hiển lớn/hiển bé).

Huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT)

  • Chân đau căng, sưng nóng, đỏ tím, đau khi ấn dọc bắp chân/đùi; có thể không có dấu hiệu rõ.

4) Mức độ nguy hiểm & biến chứng

  • SGTM kéo dài có thể gây viêm da tĩnh mạch, loét mạn, giảm chất lượng sống.
  • SVT: thường diễn tiến tại chỗ và có thể tự giới hạn, nhưng không nên xem nhẹ vì có nguy cơ kèm/tiến triển thành DVT, nhất là khi gần chỗ nối hệ sâu, đoạn huyết khối dài, triệu chứng nặng hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ.
  • DVT có nguy cơ thuyên tắc phổi, đe dọa tính mạng; về lâu dài gây hội chứng hậu huyết khối (phù mạn, đau, sạm da, loét).